Con đường thơ dại men theo bờ ruộng Cầu. Ngày đầu tiên đi học Út dắt đi trên con đường ấy, vậy mà đã gần 30 năm rồi. Đúng hơn đó chỉ là lối mòn nho nhỏ đầy lá và gai tre khô, bên này là ruộng lúa, bên kia lá dứa và tre trảy um tùm. Đi hết lối gai tre nớ thì đụng cây cầu named Bà Kháng Bridge, cắt xéo một phát qua sân Tiền Hiền rồi vô trường, một ngôi trường mái tranh nền cát tường đất sét nhồi rơm khô. Buổi học đầu tiên bắt đầu trong ngôi trường ấy. Còn cây cầu, dân làng vẫn gọi cầu Bà Kháng vì nó nằm ngay ngõ nhà bà Kháng, cầu bằng beton sắt ấp chiến lược bắt qua một con khe hẹp chảy ra từ sau làng. Con khe thì bắt nguồn đâu tận rừng Bồ Cốc, chảy một hồi qua nỗng cát trắng lưa thưa dương liễu rồi ghé tạt qua khu rừng Chà Rang cạnh nhà ông Túc sau trường, men theo bờ cây trước nhà ông Điểu, lượn một vòng cua ở cầu Bà Nhâm trước khi đi ngang tượng Phật Chùa đổ và tuôn một mạch xuống cống Bà Luận xuôi cầu Bà Kháng ra sông… Đoạn khe chổ rừng Chà Rang rất nhiều đất Cóc, một thứ đất đen quánh và cứng như đá, nơi nào có địa tầng đất Cóc mạch nước trong veo như nước suối đầu nguồn. Đoạn khe này còn chứa một bí mật tầm quốc gia mà không phải ai cũng biết nếu không là dân làng Đầm này: hầu hết miệng của hệ thống địa đạo Kỳ Anh đều mở ra đây, dọc thành khe đất cóc, ẩn mình dưới những lùm Chà Rang. Hệ thống địa đạo chằng chịt như mạng nhện len khắp thôn làng, dưới những hàng tre, nối với các hầm bí mật. Lối vào địa đạo có khi ngay trong nền nhà, trong lòng giếng hay trong lòng đống rơm nào đó, túm lại là bất cứ cách nào bất ngờ nhất. Nghe ba kể, dân ta đào địa đạo vào ban đêm cùng một cây nến và chiếc xẻng nhỏ, đất bỏ vào hủ sành nho nhỏ rút dần ra ngoài. Với phương cách kiến tha mồi ấy mà vẫn nên hình một hệ thống đường hầm chằn chịt trong lòng đất, thế mới kinh người. Khác với Củ Chi trên nền đất thịt, địa đạo nơi này chạy trong lòng cát, hoặc đất cóc hoặc rể tre giúp đường hầm không sập, tuyệt nhiên không có giàn bệ chống đỡ gì. Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng mùa mưa vẫn thấy một đoạn đường làng bỗng nhiên sụp xuống hay một bụi tre đột nhiên thụt xuống lòng đất, là nơi có địa đạo chạy qua.

Tết Tây năm nay không ra đường, nằm nhà xem lại 3 tập film La Guerre du VN: Images Inconnues của Daniel bản gốc, còn nguyên những scène nhạy cảm mà VTV hay HTV cắt bỏ, thấm thía cái khắc nghiệt của chiến tranh, khi cái chết luôn cận kề, một người bỗng sống bỗng chết sau một phút giây, một căn nhà hay ngôi làng tiếng trước tiếng sau trở thành tro tàn. Ngày còn nhỏ ở quê, những bữa cơm muộn dưới trăng cùng mấy ông già hàng xóm sau một ngày cấy gặt bao giờ cũng được nghe những chuyện tang tóc dân làng thời chiến. “Sau tiếng bom nổ, một cái đùi người từ đâu rơi bịch xuống sân nhà ông nội, mãi sau đó mới biết là đùi bà Ân, cách nhà ông nội 2 khu vườn, nghĩa là cái đùi ấy phải bay qua ít nhất 3 cái bờ tre trước khi đáp xuống sân nhà…” Những câu chuyện rùng rợn kiểu như thế hằng hà, chuyện thô mộc không hề thêm bớt cắt gọt, được kể bởi người tận mắt tận tai, tất cả hiện về mồn một như phim 5D để người nghe cảm nhận cả mùi tanh của máu và khét lẹt thuốc súng hay cháy sạm thịt da người.
Làng Đầm nằm trên bờ bắc một đầm nước rộng đầy lát sậy, từng được mệnh danh là nôi cộng sản nằm vùng. Bờ đối diện phía nam là dãy đồi bazan Kỳ Phú, pháo 105mm của “quốc gia” từ đỉnh đồi ấy miệt mài nã sang, cộng sản chết một dân làng chết mười. Có một nguyên tắc bất di bất dịch tai ương là nếu trong làng có một người là cộng sản thì cả làng ấy được xem là cộng sản, và như thế cả làng ấy oằn lưng ra gánh lấy pháo bom “quốc gia” dội vào. Vẫn lời ba kể, có lần một chiếc HU rà trên lũy tre, anh Charlie mới toe nào đó táy máy vác AK47 nã một loạt (mà tiếng nổ tạch tạch của AK47 thì không lẫn với ai khác) để rồi ngay sau đó làng Đầm phải lãnh nguyên một trận mưa bom. Bom trong nhà bom ra ngoài ngõ, bom tự đầu làng cho đến cuối thôn, bom từ ruộng lúa bom tới hàng khoai, đâu đâu cũng chi chít “hục bom”, riêng khu vườn nhà ông nội cũng đã có 2 “hục” rồi, thì cả làng chẳng biết cỡ nào, như Trịnh Công Sơn từng hát “hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng, cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn..”
Bom đạn Mỹ giết dân làng không đau bằng dân làng giết nhau. Làng Đầm nho nhỏ nhưng đủ để chia 2 phe quốc-cộng. Đầm Charlie và Đầm quốc gia ngày đêm thi thố trừ khử nhau. Bi kịch ngay trong mỗi gia đình. Bi kịch còn kéo dài đến nhiều năm sau khi SàiGòn sụp đổ. Một nửa làng Đầm hân hoan, nửa kia âm thầm tủi hổ…
Ngồi coi phim, hình như mẹ đang ngược dòng thời gian trở về thời khói lửa năm nào, thỉnh thoảng mẹ chép miệng “Kinh lắm, nghe ầm ầm làm bồng nhau chạy mà chẳng biết chạy đi đâu”. Khi ống kính quét cận cảnh những xác người cháy đen, những thi thể mất đầu nằm bên xác heo bò hay miệng người lính Mỹ thều thào cầu nguyện truớc lúc chết, mình cố gắng lắm mới không nhắm mắt, mẹ ngồi bên vẫn thấy bình thường “bay chưa thấy chớ mấy cảnh ni hồi nớ như cơm bữa, còn kinh hơn gấp mấy lần…”
Nói cho cùng thì chiến tranh, những người lính dù ở chiến tuyến nào thì hình như vô tội. Đã là người lính thì buộc phải tuân lệnh thượng cấp. Như thế dù là Charlie áo bà ba quần cộc, lính cộng hòa tươm tất tiện nghi hay như anh chàng Belly thư sinh trong phim kia đều là kẻ đáng thương ngàn lần. Và thường dân vô tội là kẻ đáng thương tỷ tỷ lần hơn thế.
…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét