Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2008

Ankor

Ta muốn ôm cả đất, ta muốn ôm cả trời, mà sao Ankor ơi….

1miềnsimmuacànhcâyquecủi

Tím phơn phớt hồng

Tím sậm dần đen nhung

Tím buồn như ráng chiều ngày cuối hạ.

Không biết đã là lần thứ bao nhiêu mình gặp, và nghe. Sao lạ lùng một nỗi ám ảnh huyền hoặc. Đời mình qua mấy mùa sim rồi? Đã gặp và yêu những đồi sim nào rồi? Chuyện sim mua cành cây que củi nhỏ nhặt này cơ hồ chẳng có gì để nói, dể lướt qua và chìm lạc giữa cuộc mưu sinh bộn bề dù không quá khắc nghiệt nhưng cũng đủ khiến hồn người dần cằn cỗi này. Vậy mà một lần tình cờ ra đảo, màu tím ấy nhắc nhớ mình những đồi sim từng gặp, từng nghe. Giữa biển rừng hoang sơ, những cánh sim mong manh tím nhạt trời chiều đã khiến hồn ta xao động. Tím sim không như tím mua sặc sỡ, chỉ phơn phớt buồn. Mà sim ai trồng nhiều vậy, đủ để ủ thành vang sim bán rẫy đầy Phú Quốc. Nhấp ly vang sim một tối giữa rừng, nghe lạ. Không quá nhẹ để thành rượu nhạt, không quá nặng đủ để ngà say, mùi vị lạ, ngọt nhưng chát nồng hương sim. Rổ sim chín tím đen mượt nhung chỉ nhìn đã thích, len lỏi vào rừng tự tay tìm hái những trái tròn căn mọng cắn bụp cho sim tan dần trên lưỡi thì thích đến ngàn lần.

Rừng sim đầu tiên ta gặp, ở “xứ Đầm cát trắng phì nhiêu, gà con mang dép cuối chiều còn mang”. Tuổi thơ đã vời xa, nhưng những chiều tắt nắng thơ thẫn rừng sim sau làng cứ như hôm qua. Cát trắng, bụi lùm, sim, mua, móc, trâm, nhãn, nổ…Những ngày yên bình không cùng ở làng Đầm tôi xưa, bao giờ trở lại? Có cho tôi được không, một vé tuổi thơ. Chợt nhớ mấy câu thơ viết tặng riêng mình:

Ta phiêu linh mộng sa mù

trăng cố xứ, bãi bờ sim mua

Tìm đau đáu cõi xanh xưa

Lại lay hoay giữa cằn khô xứ người

Thời gian dung những khôn nguôi

Thơ ta đắng, tặng riêng người ta say

Dại khờ nuôi giấc trùng lai

Vui đâu hay biết mai ngày bể dâu

Giữa sầu miên viễn xanh rêu

Hồn ta hương rạ đồng chiều chuốc say

Quê nghèo nên nỗi sinh ly

Cát đau lòng khóc người đi không về

Dấu giày bạn với sơn khê

Yêu thương xin hẹn ngày về trao nhau.

Mười lăm năm lưu lạc, chẳng biết để tìm gì quên gì, vẫn đau đáu mong một ngày về mắc võng đong đưa dưới bóng tre già cỗi. Bãi bờ sim mua giờ chắc đã khác, cát trắng sau làng, màu nước sông Đầm cũng đã khác, chỉ niềm nhớ quê nghèo chắc đã hơn xưa. Ta có quá nhiều những ngày lớn chưa khôn, nên chi nhiều khi day dứt dằng vặt mình vì những điều xưa cũ. Nước sông Đầm vẫn lên xuống mỗi ngày, chiều gió sông Đầm vẫn đôi bờ lồng lộng, không khác được. Có ai yên chờ sông đứng lại hay không?

Thì vậy đó, đất trời ngày mỗi lạ

Em ngày sau sẽ xa dấu ngày xưa

Ta ngốc dại yên chờ sông đứng lại

Hát rằng xưa tình trẻ mãi không già.

Có lẽ cái buồn hơn vạn ngàn nỗi buồn, là mỗi lần trở lại thăm quê ta không gặp được Ng. Đốt nén nhang trước mộ mà thấy xót cho người anh em tuổi thơ mệnh bạc, một số phận đắng cay ngay từ lúc lọt lòng. Làm sao quên được những đêm hai thằng xách đèn dọc ngang sông Đầm soi cá, ruộng đồng rong rạ cũng từng quen bước ta rồi. Giờ mày nằm đó, giữa rừng sim vắng, có ngủ yên được không? Hay vẫn hoài day dứt vì nợ trần chưa trả. “Tam thập chưa tròn khôn thỏa dạ/ Tang bồng lỡ bước lệ hoài vương”. Đàn ông con trai, chỉ thiếu một bước đến ngày “nhi lập”, nợ sông hồ còn bỏ giữa dương gian. Làm sao lòng yên? Làm sao ngăn được lệ người ở lại? Ngày mày đi tau không vể kịp để nhìn thấy mặt lần cuối. Dù ngồi suốt đêm bên nấm mồ cát lạnh vẫn thấy mình rất lỗi, để rồi bao năm qua giấc ngủ mãi gặp mày.

Ta về hôm ấy không còn kịp

Vãn tự lâu rồi buổi tiễn đưa

Muộn màng hoa trắng vương trên cát

Lặng lẽ người đi chẳng hẹn chờ…

Rừng sim đầu tiên, ngọt ngào kỷ niệm nhưng gắn liền những nỗi đau dài. Những mất mát chia lìa, tử sinh, còn mất, như những đoạn phim buồn. Bên rừng sim ấy, bao năm qua mẹ vẫn mỏi mòn trông ngóng. Mỗi đêm nghe tiếng tàu về lòng mẹ lại quắt quay niềm thương con vô hạn. Những lần tạt về thăm nhà ngắn ngủi, mẹ chưa kịp vui đã bấm tay đếm ngược những ngày phép: còn ba ngày… còn hai ngày… mốt là thằng Tư phải đi lại rồi… Ta xách va li, mẹ không dám ra nhìn, mẹ quay vào trong dấu đôi mắt ướt. Thương rừng sim làng Đầm quá đi thôi. Chợt thấy câu thơ ai đó viết, ngỡ cho mình:

Tuyết sương đất khách đã nhiều

Nhớ sao sợi khói lam chiều yêu thương

Quê nhà vời vợi viễn phương

Chiều nay có kẻ nhìn sương khói buồn.

Ai từng yêu thơ, yêu nhạc chắc ít nhất một lần nghe qua câu chuyện bi hùng trong “Màu tím hoa sim”. Bài thơ định mệnh một thời khiến tác giả phải lên bờ xuống ruộng. Và chắc rằng nếu không vướng cái án NVGP vùi dập kia, người đời còn có thể được thưởng thức nhiều tuyệt tác hơn thế. Một thế hệ lẫy lừng bỗng tan hoang. Những PQ, TD, HL, HC, LĐ … tài danh đành ngậm ngùi để ngòi bút rỉ sét nơi rừng hoang nước thẳm. Nghiệt ngã vô cùng! Kẻ tội đồ dốt nát được tung hê, đẩy lên làm quan tòa. Có chết người không? Rừng sim trong bài thơ lừng danh này “tím hoang biền biệt”, tím nghiệt, tím bi thương như thân phận người con gái. Đoàn binh đi, chiều loang nắng, ngang rừng tím hoang buồn, một hình ảnh đẹp sầu bi. Nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc siêu phẩm thơ này. Dzũng Chinh với “Những đồi hoa sim” da diết, u hoài, nghe cứ tang tóc làm sao. Từ lúc ba bốn tuổi ta vẫn thường nghe Ba và Út hát, không hiểu gì nhiều nhưng vẫn nhớ hình ảnh “một chiều rừng mưa được tin em gái mất, chiếc thuyền như vỡ đôi”. Sau này khi lớn lên, nghe “Chuyện hoa sim” của Anh Bằng thấy không khí đã tươi hơn, nhưng giọng hát Như Quỳnh vẫn cứ buồn thật buồn. Boléro là vậy. Nhưng để thể hiện hết cái thần, cái hồn của bài thơ, phải nói chỉ có Phạm Duy trong “Áo anh sứt chỉ đường tà”. Tiết tấu bài hát thay đổi theo mạch cảm xúc của bài thơ, tạo những trường đoạn thể hiện trọn vẹn nét bi thương, hùng tráng của nguyên tác.

Rừng sim tiếp theo ta còn nhớ, đúng hơn là đồi sim trong “Thu, hát cho người”. Hóa ra bác Vũ Đức Sao Biển đã từng có một thời gian cư ngụ Tam Thăng, thời những năm 50 khi tản cư dọc sông Trường từ Bà Rén vào Tam Kỳ. Mình nghe bài hát lần đầu khi vào KTX Nguyễn Thị Minh Khai, dãy nhà tôn lụp xụp nóng bức ấy kể ra đã dạy mình khá nhiều điều (kể cả những … tật hư). Bài hát buồn, thật buồn, như một chia ly. Nghe đâu đồi sim trong bài hát nằm ở vùng đồi núi Quế Sơn. Một chiều nhạt nắng, có kẻ tìm “về đồi sim để nhớ người vô bờ”. Gốc sim già mãi một người chờ đợi, dù người kia xa biệt ngàn trùng, không hẹn ngày về lại. Mình chưa từng biết chia ly khi lần đầu nghe bài hát, sao vẫn cứ thích, vẫn cứ hát, để rồi mãi ám ảnh một đồi sim buồn. Có phải lời bài hát đó đã vận vào mình sao này chăng? Có thể.

Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt.

Biệt ly nào cho người về thăm bến xưa.

Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ.

Về đồi sim ta nhớ người vô bờ.

Trong khoảng thời gian “mười lăm năm chăng dê ở núi đồi Trung Việt”, Bùi Giáng tiên sinh cũng đã đôi khi gửi lại những dòng “chuồn chuồn châu chấu” mang bóng dáng sim mua. Chẳng biết “núi đồi Trung Việt” ấy ở đâu, Duy Xuyên hay Đại Lộc, nhưng những câu thơ họ Bùi vẫn tươi sáng lạ, trong veo như tiếng sáo mục đồng:

Anh lùa bò vào đồi sim trái chín

Cho đàn bò ăn cỏ giữa rừng sim

Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình…

Hay trong câu thơ “hỏa mù ngôn ngữ” sau này:

Sim ngàn sổ lá buông rơi

Cành Nam ước nguyện sai lời tử sinh.

Bùi Giáng trong thơ hay Trịnh Công Sơn trong nhạc, ta đừng mong tìm hiểu rõ ngọn nguồn chữ nghĩa. Dòng cảm xúc từ máu tim tuông ra, ào như suối tưới. Chỉ có tác giả ở thời khắc đó mới hiểu mình viết gì. Sau này có hỏi lại họ cũng lắc đầu không giải thích được.

Một rừng sim khác, không kém mộng mơ đã mê hoặc mình sau khi mê hoặc cô nàng Hà Lan và anh chàng thư sinh tên Ngạn. Trong một bài báo gần đây, Nguyễn Nhật Ánh có kể, rừng sim mênh mông trong Mắt biết là có thật, gần Hà Lam trong, cách chợ Đo Đo non vài cây số. Ai từng đọc Mắt biếc chắc cũng đã ít nhiều mường tượng về rừng sim thơ mộng này, nơi mỗi chiều cuối tuần Ngạn cùng cô bạn học vứt xe đạp bìa rừng chạy lạc vào ngàn sim tìm trái. Rừng sim ấy, ngoài sim còn có cả dủ dẻ và trâm.

…..........

Nhưng đời ta, ngoài những đồi sim trên, còn có một đồi sim khác, nhỏ bé hơn, mơ hồ hơn, lạ lùng hơn, ngốc dại hơn, và ám ảnh hơn nhiều. Và, ta chưa từng được gặp. Chỉ nghe nhắc đến thoáng một lần, rồi mãi nhớ, dù cho ngày tháng đó xưa cũ, lạc loài, xót xa lắm rồi. Người cũng biền biệt ngàn khơi rồi. Nên chi rừng sim giờ chắc bơ vơ lắm lắm. Còn có cô bé nào, áo thiên thanh, xe đạp trắng, một chiều nhạt nắng lên đồi tìm thăm không? Và để nhớ chiều xưa từng lang thang rừng sim tìm hoa… dủ dẻ. Mười năm rồi còn gì, hài cốt dủ dẻ cánh cứng héo tàn, hương hồn hoa đã thoát đi rồi, bỏ lại đám xương hoa sạm đen khô đét. Lạc rừng sim chiều ấy, cô bé còn mang một nỗi sầu muộn đẹp, nỗi sầu muộn thơ dại tình đầu, để rồi mười năm sau ngoái đầu nhìn lại chợt ngộ ra một niềm ân hận khôn cùng. Người xưa “hồi đầu thị ngạn”, nay có người “hồi đầu thị..ăn năn”. Ngày tháng rồi xa, kiếp người rồi qua, “hãy cứ vui như mọi ngày, đừng cuồng điên mơ trăm năm sau”, làm gì có trăm năm mà đợi, làm gì có kiếp sau mà chờ. Hãy cứ lạnh lùng đi, lách qua ngày tháng đó, gió mùa xưa có gọi, hãy hững hờ như chưa quen nhau, phải không mắt buồn bi huyền?

Mà trách chi thời vụng dại, em tôi ơi! Đừng giết, hãy để đồi sim tự sinh tự chết. Như cuộc tình không buồn ở lại, tình đi.

“Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xa đường

Thôi thì thôi nhé, đoạn trường thế thôi…”

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2008