









Song Phạm
Bỏ lại trái tim mình ở một góc quê nhà
mang theo trái tim một kẻ khác
người ra đi…
Nước mắt chảy theo
nước mắt ngược về
thành áp thấp
Ngày đi có cơn bão rớt
ngoài song và cả trong lòng
bão tan bóng người mờ khuất
gió dềnh tao tác nhánh sông
Đêm mơ thấy mình hóa nắng
vàng ươm một góc sân nhà
vẩn vơ một con bướm trắng
hồn về hôn hoa chơi trăng
Tiếng nấc ơi hời xứ lạ
giọng ca khắc khoải quê nhà
thương ai mòn con mắt xót
vòng tay mẹ hóa xa xăm…
Tuyết rơi không lấp nỗi cái buồn bên nớ
mưa dầm không trôi được cái nhớ bên ni
xuân hạ thu đông người nối người lớp lớp ra đi
tim thắp lửa, lòng hướng về cố xứ
Khói sông khói sóng khói thuốc khói bụi… mịt mờ lối cũ
nước mưa nước mắt nước sông nước sóng… chảy tràn ngập lũ đường xưa
rặng tre bóng nứa ven đường oằn mình nhớ con diều giấy
bãi sông bờ cỏ dọc lối quắt quay thương con dế nhỏ tuổi thơ gầy
Cái nhớ lùa vào tóc hóa bóng đêm
tim yêu hỏa diệm sơn nung lửa giấu mặt trời nhiệt đới
sưởi một trái tim,
những trái tim,
vô số trái tim da vàng, mắt nâu, đầu đen, máu đỏ
Này anh, này chị, này mẹ, này em…
Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không lớn lên được. Cằn cỗi, héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: tại nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, những bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng dễ hay, cũng hay. Người viết, dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ, những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài ấy thì sợ sệt, lo âu… sợ sệt lo âu cho một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến:
Năm xưa tôi còn nhỏ
mẹ tôi đã qua đời!
lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
để dòng nước mắt chảy
là bớt khổ đi rồi…
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
mất cả một bầu trời.
Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt Nam không ưa nói cách cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là một kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách giản dị vừa đúng mức:
Mẹ già như chuối Ba Hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.
Ngon biết bao nhiêu! Những lúc miệng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lại ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay? Hay là tơ trời đâu la miên?) trên trán nóng ta và than thở “Khổ chưa, con tôi”, ta mới thấy cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy, không bao giờ cùng tận. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu. Mẹ là giáo sư dạy về thương yêu, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quán Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền, làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, Thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa, chỉ mấy bước.
Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother’s Day) mồng mười tháng Năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân, tới nhà sách ở khu Ginza , ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục phương Tây. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc, khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người đựoc cài hoa trắng sẽ thấy, sót xa, nhớ thương, không quên mẹ dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi, có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước, áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.
Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi , mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào ‘nhìn kỹ’ được mặt mẹ.” Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya, dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời, lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất, mình có cảm nghĩ: thật như là mình chưa bao giờ thật có ý thức rằng mình có mẹ.
Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ hỏi em, vừa cười vừa hỏi: “Biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ hỏi tiếp: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi, ngươi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì ngươi là con của mẹ. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.
Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Liên và về sự hiếu để. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát nước thì uống. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên đi tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ con. Đó chỉ là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa, thầy giáo hỏi rằng: “Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?” Tôi trả lời: “Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi.” Bây giờ thì tôi biết rằng, con thương mẹ thì không phải “làm thế nào” gì hết. Cứ thương mẹ, là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi làm thế nào nữa!
Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi, để sau này anh chị đừng có than thở rằng: “Đời ta không còn gì cả.” Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì hoạ chăng có làm Ngọc Hoàng Thượng Đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc Hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc Hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.
Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng lẽ chị tôi không nên đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu; người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: “Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác.” Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói: “Thôi, con không lấy chồng nữa.” Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. Cát ái từ sở thân, là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào là không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu, nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi, nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng quí báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.
Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: không nên theo đuổi sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ. Tôi đã nói là tôi không khuyên răn ai hết, tôi không giảng luân lý đạo đức rồi mà. Tôi chỉ nhắc anh: mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn: Cũng phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà bị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.
Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học về, hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: “Biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi thì cũng hỏi câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em đều là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ được sống trong ý thức tình thương bất diệt. Và ngày mai, mẹ mất, anh sẽ không hối hận, đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ.
Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đoá hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi!
Con đường thơ dại men theo bờ ruộng Cầu. Ngày đầu tiên đi học Út dắt đi trên con đường ấy, vậy mà đã gần 30 năm rồi. Đúng hơn đó chỉ là lối mòn nho nhỏ đầy lá và gai tre khô, bên này là ruộng lúa, bên kia lá dứa và tre trảy um tùm. Đi hết lối gai tre nớ thì đụng cây cầu named Bà Kháng Bridge, cắt xéo một phát qua sân Tiền Hiền rồi vô trường, một ngôi trường mái tranh nền cát tường đất sét nhồi rơm khô. Buổi học đầu tiên bắt đầu trong ngôi trường ấy. Còn cây cầu, dân làng vẫn gọi cầu Bà Kháng vì nó nằm ngay ngõ nhà bà Kháng, cầu bằng beton sắt ấp chiến lược bắt qua một con khe hẹp chảy ra từ sau làng. Con khe thì bắt nguồn đâu tận rừng Bồ Cốc, chảy một hồi qua nỗng cát trắng lưa thưa dương liễu rồi ghé tạt qua khu rừng Chà Rang cạnh nhà ông Túc sau trường, men theo bờ cây trước nhà ông Điểu, lượn một vòng cua ở cầu Bà Nhâm trước khi đi ngang tượng Phật Chùa đổ và tuôn một mạch xuống cống Bà Luận xuôi cầu Bà Kháng ra sông… Đoạn khe chổ rừng Chà Rang rất nhiều đất Cóc, một thứ đất đen quánh và cứng như đá, nơi nào có địa tầng đất Cóc mạch nước trong veo như nước suối đầu nguồn. Đoạn khe này còn chứa một bí mật tầm quốc gia mà không phải ai cũng biết nếu không là dân làng Đầm này: hầu hết miệng của hệ thống địa đạo Kỳ Anh đều mở ra đây, dọc thành khe đất cóc, ẩn mình dưới những lùm Chà Rang. Hệ thống địa đạo chằng chịt như mạng nhện len khắp thôn làng, dưới những hàng tre, nối với các hầm bí mật. Lối vào địa đạo có khi ngay trong nền nhà, trong lòng giếng hay trong lòng đống rơm nào đó, túm lại là bất cứ cách nào bất ngờ nhất. Nghe ba kể, dân ta đào địa đạo vào ban đêm cùng một cây nến và chiếc xẻng nhỏ, đất bỏ vào hủ sành nho nhỏ rút dần ra ngoài. Với phương cách kiến tha mồi ấy mà vẫn nên hình một hệ thống đường hầm chằn chịt trong lòng đất, thế mới kinh người. Khác với Củ Chi trên nền đất thịt, địa đạo nơi này chạy trong lòng cát, hoặc đất cóc hoặc rể tre giúp đường hầm không sập, tuyệt nhiên không có giàn bệ chống đỡ gì. Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng mùa mưa vẫn thấy một đoạn đường làng bỗng nhiên sụp xuống hay một bụi tre đột nhiên thụt xuống lòng đất, là nơi có địa đạo chạy qua.

Tết Tây năm nay không ra đường, nằm nhà xem lại 3 tập film La Guerre du VN: Images Inconnues của Daniel bản gốc, còn nguyên những scène nhạy cảm mà VTV hay HTV cắt bỏ, thấm thía cái khắc nghiệt của chiến tranh, khi cái chết luôn cận kề, một người bỗng sống bỗng chết sau một phút giây, một căn nhà hay ngôi làng tiếng trước tiếng sau trở thành tro tàn. Ngày còn nhỏ ở quê, những bữa cơm muộn dưới trăng cùng mấy ông già hàng xóm sau một ngày cấy gặt bao giờ cũng được nghe những chuyện tang tóc dân làng thời chiến. “Sau tiếng bom nổ, một cái đùi người từ đâu rơi bịch xuống sân nhà ông nội, mãi sau đó mới biết là đùi bà Ân, cách nhà ông nội 2 khu vườn, nghĩa là cái đùi ấy phải bay qua ít nhất 3 cái bờ tre trước khi đáp xuống sân nhà…” Những câu chuyện rùng rợn kiểu như thế hằng hà, chuyện thô mộc không hề thêm bớt cắt gọt, được kể bởi người tận mắt tận tai, tất cả hiện về mồn một như phim 5D để người nghe cảm nhận cả mùi tanh của máu và khét lẹt thuốc súng hay cháy sạm thịt da người.
Làng Đầm nằm trên bờ bắc một đầm nước rộng đầy lát sậy, từng được mệnh danh là nôi cộng sản nằm vùng. Bờ đối diện phía nam là dãy đồi bazan Kỳ Phú, pháo 105mm của “quốc gia” từ đỉnh đồi ấy miệt mài nã sang, cộng sản chết một dân làng chết mười. Có một nguyên tắc bất di bất dịch tai ương là nếu trong làng có một người là cộng sản thì cả làng ấy được xem là cộng sản, và như thế cả làng ấy oằn lưng ra gánh lấy pháo bom “quốc gia” dội vào. Vẫn lời ba kể, có lần một chiếc HU rà trên lũy tre, anh Charlie mới toe nào đó táy máy vác AK47 nã một loạt (mà tiếng nổ tạch tạch của AK47 thì không lẫn với ai khác) để rồi ngay sau đó làng Đầm phải lãnh nguyên một trận mưa bom. Bom trong nhà bom ra ngoài ngõ, bom tự đầu làng cho đến cuối thôn, bom từ ruộng lúa bom tới hàng khoai, đâu đâu cũng chi chít “hục bom”, riêng khu vườn nhà ông nội cũng đã có 2 “hục” rồi, thì cả làng chẳng biết cỡ nào, như Trịnh Công Sơn từng hát “hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng, cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn..”
Bom đạn Mỹ giết dân làng không đau bằng dân làng giết nhau. Làng Đầm nho nhỏ nhưng đủ để chia 2 phe quốc-cộng. Đầm Charlie và Đầm quốc gia ngày đêm thi thố trừ khử nhau. Bi kịch ngay trong mỗi gia đình. Bi kịch còn kéo dài đến nhiều năm sau khi SàiGòn sụp đổ. Một nửa làng Đầm hân hoan, nửa kia âm thầm tủi hổ…
Ngồi coi phim, hình như mẹ đang ngược dòng thời gian trở về thời khói lửa năm nào, thỉnh thoảng mẹ chép miệng “Kinh lắm, nghe ầm ầm làm bồng nhau chạy mà chẳng biết chạy đi đâu”. Khi ống kính quét cận cảnh những xác người cháy đen, những thi thể mất đầu nằm bên xác heo bò hay miệng người lính Mỹ thều thào cầu nguyện truớc lúc chết, mình cố gắng lắm mới không nhắm mắt, mẹ ngồi bên vẫn thấy bình thường “bay chưa thấy chớ mấy cảnh ni hồi nớ như cơm bữa, còn kinh hơn gấp mấy lần…”
Nói cho cùng thì chiến tranh, những người lính dù ở chiến tuyến nào thì hình như vô tội. Đã là người lính thì buộc phải tuân lệnh thượng cấp. Như thế dù là Charlie áo bà ba quần cộc, lính cộng hòa tươm tất tiện nghi hay như anh chàng Belly thư sinh trong phim kia đều là kẻ đáng thương ngàn lần. Và thường dân vô tội là kẻ đáng thương tỷ tỷ lần hơn thế.
…